|
CỤC THUẾ THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI Số: 20209 /DON-QLDN1 V/v hướng dẫn chính sách thuế GTGT |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Đồng Nai, ngày 26 tháng 10 năm 2026 |
Kính gửi: Công ty TNHH Megatec;
Mã số thuế: 3800348056;
Địa chỉ: Lô A6.4 và A6.8 KCN Chơn Thành I, khu phố 2,
Phường Chơn Thành, thành phố Đồng Nai.
Thuế thành phố Đồng Nai nhận được văn bản số 012026/MGT-CST ngày 14/08/2026 của Công ty TNHH Megatec (sau đây gọi là Công ty) gửi đến cơ quan thuế ngày ngày 17/08/2026 về việc đề nghị hướng dẫn áp dụng thuế suất thuế GTGT đối với một số sản phẩm gỗ và phế phẩm từ gỗ. Về vấn đề này, Thuế thành phố Đồng Nai có ý kiến như sau:
Căn cứ Luật số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 149/2025/QH15):
– Tại khoản 1 Điều 5 quy định đối tượng không chịu thuế như sau:
“1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.”
– Tại khoản 1 Điều 14 quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào như sau:
“Điều 14. Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai, sót thì được khai thuế trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế như sau:
Người nộp thuế thực hiện khai bổ sung vào tháng, quý phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu vào bị sai, sót nếu việc khai thuế vào tháng, quý phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu vào bị sai, sót làm tăng số thuế phải nộp hoặc giảm số thuế được hoàn; người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế phải nộp tăng thêm hoặc bị thu hồi số tiền thuế đã được hoàn tương ứng và nộp tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước (nếu có).
Người nộp thuế thực hiện khai vào tháng, quý phát hiện sai, sót nếu việc khai thuế vào tháng, quý phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu vào bị sai, sót làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chỉ làm tăng hoặc giảm số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ chuyển sang tháng, quý sau;”
– Tại điểm d khoản 2 Điều 9 quy định thuế suất 5% như sau:
“d) Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;”
– Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 10% như sau:
“3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.”
– Tại khoản 5 Điều 9 quy định như sau:
“5. Phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi trong quá trình sản xuất thì áp dụng mức thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu đó.”
Căn cứ khoản 1 Điều 1 Nghị định số 359/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/ 01/2026):
“1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trong đó:
a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.
b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định này.”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 20 Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường có hiệu lực thi hành từ ngày 01/ 01/2026 quy định:
“Gỗ sơ chế thông thường là gỗ sau khai thác, được xử lý qua các công đoạn chế biến ban đầu (cắt, cưa, xẻ, chẻ, bóc ván hoặc lạng ván, băm, nghiền) nhưng chưa làm thay đổi bản chất gỗ, nhằm tạo nguyên liệu hoặc bán thành phẩm phục vụ cho các công đoạn chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ, kinh doanh tiếp theo hoặc tạo thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu kho, bảo quản. Gỗ sơ chế thông thường bao gồm: gỗ xẻ thô, gỗ đẽo hộp mà bề mặt còn thô nhám, chưa qua công đoạn bào trơn hoặc xử lý hoàn thiện; gỗ bóc hoặc gỗ lạng chưa được ép thành ván ép hoặc các loại ván công nghiệp khác; dăm gỗ (dăm mảnh, dăm nghiền) và phụ phẩm gỗ phát sinh trong quá trình chế biến như: mùn cưa, vỏ cây, đầu mẩu, bìa bắp và dăm bào.”
Căn cứ hướng dẫn 'tại công văn số 4582/BTC – CST ngày 13/04/2026 của Bộ Tài chính về chính sách thuế GTGT đối với gỗ sơ chế thông thường.
Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 3546/CT – CS ngày 29/05/2026 của Cục Thuế về chính sách thuế GTGT đối với gỗ sơ chế thông thường.
Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 2362/LNKL-SDR ngày 13/08/2026 của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm về việc hướng dẫn xác định sản phẩm gỗ sơ chế thông thường:
“Các phụ phẩm gỗ sinh ra trong quá trình chế biến gỗ như mùn cưa, vỏ cây, đầu mẩu, bìa đắp, dăm bào và các phụ phẩm gỗ tương tự có lẫn hàm lượng chất bảo quản gỗ và keo dán gỗ được xác định là gỗ sơ chế thông thường vì các lý do sau: (1) Nội dung quy định về gỗ sơ chế thông thường tại Điểm c Khoản 1 Điều 20 Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT không phân biệt phụ phẩm gỗ phát sinh từ công đoạn sơ chế (như cưa xẻ, bóc ván, băm dăm) hay phát sinh từ công đoạn chế biến tinh chế (như sản xuất ván ghép, ván ép, ván công nghiệp khác, đồ gỗ nội thất, ngoại thất và các sản phẩm bằng gỗ khác).”
Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 2721/LNKL-SDR ngày 14/09/2026 của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm về việc hướng dẫn xác định sản phẩm gỗ sơ chế thông thường:
“Gỗ xẻ đã được tiến hành thêm một hoặc một số công đoạn chế biến như ngâm tẩm hóa chất bảo quản, sấy khô trong lò sấy không thuộc phạm vi gỗ sơ chế thông thường theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT”
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi khoản 13 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP, quy định thay thế, điều chỉnh hóa đơn điện tử.
Căn cứ quy định tại Điều 10 Thông tư số 91/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính về xử lý hóa đơn điện tử đã lập.
Căn cứ quy định nêu trên, từ ngày 01/01/2026:
– Trường hợp phôi cao su tràm đã qua cưa xẻ theo quy cách thành dạng thanh gỗ đã được ngâm tẩm hóa chất bảo quản và sấy không thuộc gỗ sơ chế thông thường tại Điểm c Khoản 1 Điều 20 Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT được xác định là đối tượng chịu thuế suất thuế GTGT 10% theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật số 48/2024/QH15.
– Trường hợp trong quá trình sản xuất Công ty thu được phụ phẩm gỗ như dăm bào, mùn cưa, đầu mẩu, vỏ cây, bìa bắp thuộc gỗ sơ chế thông thường tại Điểm c Khoản 1 Điều 20 Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT thì:
+ Công ty bán dăm bào, mùn cưa, đầu mẩu, vỏ cây, bìa bắp cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT.
+ Công ty bán dăm bào, mùn cưa, đầu mẩu, vỏ cây, bìa bắp cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế GTGT theo mức thuế suất 10% quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT.
– Trường hợp các doanh nghiệp lập hóa đơn chưa đúng quy định thì việc xử lý hóa đơn điện tử đã lập thực hiện theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 70/2025/NĐ-CP) cho giai đoạn trước ngày 01/7/2026 và Điều 10 Thông tư số 91/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử từ ngày 01/7/2026.
– Công ty căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 149/2025/QH15) thực hiện kê khai điều chỉnh hồ sơ khai thuế.
Công ty căn cứ các quy định của pháp luật và hồ sơ thực tế tại Công ty để thực hiện theo đúng quy định.
Thuế thành phố Đồng Nai hướng dẫn để Công ty biết và thực hiện. Trong quá trình thực hiện nếu có điều gì vướng mắc, đề nghị Công ty liên hệ với cơ quan Thuế thành phố Đồng Nai (Công chức Nguyễn Hồng Nhật, phòng Quản lý, hỗ trợ Doanh nghiệp số 1, SĐT: 0934.345.355) để được hướng dẫn và giải đáp./.
|
Nơi nhận: – Như trên; – Lãnh đạo Thuế thành phố Đồng Nai; – Website Thuế thành phố Đồng Nai; – Phòng NVDTPC; – Lưu: VT, QLDN1 (Nhật 3b). |
KT. TRƯỞNG THUẾ THÀNH PHỐ PHÓ TRƯỞNG THUẾ THÀNH PHỐ
Tạ Hoàng Giang |
—
Tải Công văn trên: Tại đây
Tham gia Group Zalo để cùng trao đổi và cập nhật sớm nhất các thông tin về Thuế, Kế toán:
