TỔNG HỢP TRẢ LỜI CỦA CỤC THUẾ TẠI HỖ TRỢ QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN NĂM 2025
Nguồn: Hội nghị trực tuyến Cục thuế ngày 18/03/2026
Tải toàn bộ nội dung: TẠI ĐÂY
Người nộp thuế: Huỳnh Diệp Huyền-294-1
Địa chỉ: Đồng Tháp
Năm 2025, đơn vị có tiếp nhận NLĐ chuyển đến làm việc từ Chi nhánh khác trong cùng hệ thống, hiện tại NLĐ đang làm việc tại đơn vị và ủy quyền cho đơn vị quyết toán thuế TNCN năm 2025. Trong năm 2025, tại Chi nhánh cũ có chi trả thu nhập cho NLĐ và đã khấu trừ thuế TNCN là 5 triệu đồng, năm 2025 đơn vị tôi mới tiếp nhận người lao động cũng đã khấu trừ thuế TNCN của người lao động này. Vậy khi quyết toán thuế TNCN năm 2025 đơn vị phải kê khai quyết toán thuế TNCN như thế nào đối với người lao động này?
Trả lời:
Tại tiết d1 điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 13/10/2020 của Chính phủ quy định:
“ d) Thuế thu nhập cá nhân đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công; cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập; cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế. Cụ thể như sau:
d.1) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền do tổ chức, cá nhân trả thu nhập chi trả, không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có).”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp năm 2025 đơn vị tiếp nhận người lao động từ Chi nhánh khác đến làm việc, nếu đơn vị bạn và chi nhánh này trong cùng một hệ thống thì người lao động có thể ủy quyền cho đơn vị quyết toán thuế TNCN năm 2025 và đơn vị bạn có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có).
Tại Phụ lục Bảng kê chi tiết cá nhân thuộc diện tính thuế theo biểu lũy tiến từng phần Mẫu số 05-1/BK-QTT-TNCN theo Tờ khai quyết toán thuế TNCN mẫu số 05/QTT-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2019 của Bộ Tài chính, đơn vị bạn thực hiện kê khai như sau:
– Đánh dấu Chỉ tiêu [04] Tổ chức có quyết toán thuế theo uỷ quyền của cá nhân được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc điều chuyển trong cùng hệ thống tại Tờ khai 05/QTT-TNCN;
– Trên Phụ lục bảng kê 05-1/BK-QTT-TNCN, kê khai các chỉ tiêu:
+ Chỉ tiêu [12] Tổng thu nhập chịu thuế: Bao gồm thu nhập tại cả tổ chức cũ và tổ chức mới;
+ Chỉ tiêu [13] Trong đó: TNCT tại tổ chức trước khi điều chuyển (trường hợp có đánh dấu vào chỉ tiêu [04] tại Tờ khai 05/QTT-TNCN);
+ Chỉ tiêu [22] Tổng số thuế TNCN đã khấu trừ: Bao gồm số thuế đã khấu trừ tại cả tổ chức cũ và tổ chức mới;
+ Chỉ tiêu [23] Trong đó: số thuế đã khấu trừ tại tổ chức trước khi điều chuyển (trường hợp có đánh dấu vào chỉ tiêu [04] tại Tờ khai 05/QTT.
Người nộp thuế: Lã Ngọc Anh-292-2
Địa chỉ: Cần Thơ
Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty tôi và chuyên gia nước ngoài thỏa thuận mức lương bằng ngoại tệ (USD). Vậy khi tính thuế TNCN cho chuyên gia nước ngoài thì Công ty tôi phải quy đổi theo tỷ giá như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Điều 13 Thông tư 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 5 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính:
“Điều 5. Quy đổi thu nhập chịu thuế ra Đồng Việt Nam
1. Doanh thu, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được tính bằng Đồng Việt Nam.
Trường hợp doanh thu, thu nhập chịu thuế nhận được bằng ngoại tệ phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế mua vào của ngân hàng cá nhân mở tài khoản giao dịch tại thời điểm phát sinh thu nhập.
Trường hợp người nộp thuế không mở tài khoản giao dịch tại Việt Nam thì phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ mua vào của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam tại thời điểm phát sinh thu nhập.
Đối với loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam thì phải quy đổi thông qua một loại ngoại tệ có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam.
2. Thu nhập chịu thuế nhận được không bằng tiền phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo giá thị trường của sản phẩm, dịch vụ đó hoặc sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh thu nhập.”
Căn cứ theo quy định nêu trên thì thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân phải được tính bằng Đồng Việt Nam và được quy đổi theo đúng quy định tại Điều 13 Thông tư 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính.
Người nộp thuế: Vũ Văn Hải-291-3
Địa chỉ: Lâm Đồng
Khoản phụ cấp điện thoại cho người lao động chi bằng tiền có tính vào TNCT TNCN không?
Trả lời:
– Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:
…đ.4) Phần khoản chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục,… cao hơn mức quy định hiện hành của Nhà nước. Mức khoản chi không tính vào thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp như sau:
…đ.4.2) Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, các văn phòng đại diện: mức khoán chi áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp”.
Trường hợp Công ty chi tiền điện thoại cho người lao động phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì khoản chi này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Trường hợp Công ty chi tiền điện thoại cho người lao động cao hơn mức khoán chi quy định thì phần chi cao hơn mức khoán chi quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Người nộp thuế: Vũ Thu Thủy-288-4
Địa chỉ: Điện Biên
Trong năm 2025 đơn vị tôi đã hạch toán khoản chi thu nhập tăng thêm cho ngừoi lao động vào ngày 31/12/2025 và thực chi cho người lao động vào tháng 01/2026. Đây là khoản thu nhập tăng thêm của cả năm và được chi trả 01 lần vào đầu năm sau. Vậy tôi muốn hỏi khoản chi thu nhập tăng thêm này tôi phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của năm 2025 hay của năm 2026.
Trả lời:
– Căn cứ khoản 2 Điều 8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“2. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công
a) Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế theo hướng dẫn tại khoản 2, Điều 2 Thông tư này.
b) Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế…”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Công ty của bạn chi trả khoản thu nhập tăng thêm năm 2025 cho người lao động vào tháng 01/2026 thì khoản thu nhập này được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của năm 2026 theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
Người nộp thuế: Thắng Cường-287-5
Địa chỉ: Đà Nẵng
Công ty chúng tôi ngày Tết Nguyên đán có cho nhân viên nghỉ lễ. Tuy nhiên để đảm bảo công việc không bị trì hoãn, chúng tôi có cho một số nhân viên làm thêm ngày lễ trong dịp Tết Nguyên đán. Mức lương làm thêm của các nhân viên đó được tính theo Bộ Luật lao động 2019, bao gồm 100% tiền lương ngày nghỉ có hưởng lương và 300% tiền trực lễ. Vậy khoản tiền lương trả cho người lao động trong những ngày làm thêm trong dịp Tết Nguyên đán có tính vào thu nhập chịu thuế không?
Trả lời:
– Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 9, Bộ Luật Lao động năm 2019 quy định:
“Điều 98. Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm
1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
…c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.”
– Căn cứ điểm i Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn các khoản thu nhập được miễn thuế:
“Điều 3. Các khoản thu nhập được miễn thuế
…i) Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Cụ thể như sau:
i.1) Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ (-) đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.
Ví dụ 2: Ông A có mức lương trả theo ngày làm việc bình thường theo quy định của Bộ luật Lao động là 40.000 đồng/giờ.
– Trường hợp cá nhân làm thêm giờ vào ngày thường, cá nhân được trả 60.000 đồng/giờ thì thu nhập được miễn thuế là:
60.000 đồng/giờ – 40.000 đồng/giờ = 20.000 đồng/giờ
– Trường hợp cá nhân làm thêm giờ vào ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cá nhân được trả 80.000 đồng/giờ thì thu nhập được miễn thuế là:
80.000 đồng/giờ – 40.000 đồng/giờ = 40.000 đồng/giờ
i.2) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.”
Căn cứ các quy định trên, trường hợp Công ty chi trả cho người lao động tiền lương làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết theo đúng quy định tại Bộ Luật lao động thì thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động được xác định là thu nhập miễn thuế TNCN theo hướng dẫn tại Điểm i Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Người nộp thuế: Mỹ Tho-286-6
Địa chỉ: Cà Mau
Trong năm, công ty không phát sinh chi trả thu nhập, vậy công ty có phải lập tờ khai quyết toán thuế TNCN hay không?
Trả lời:
Căn cứ Điểm d Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế:
"Điều 8. Các loại thuế khai theo tháng, khai theo quý, khai theo năm, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế và khai quyết toán thuế
… d.1) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế và quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền do tổ chức, cá nhân trả thu nhập chi trả, không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp công ty trong năm nếu không phát sinh trả thu nhập từ tiền lương, tiền công thì không phải khai quyết toán thuế TNCN.
Người nộp thuế: Thái Thị Hiền-283-7
Địa chỉ: Vĩnh Long
Công ty tôi có một số người lao động hỏi: khi thực hiện khai quyết toán thuế TNCN thì họ tính có số thuế phải nộp thêm là 50.000 đồng hoặc thấp hơn. Vậy họ có phải nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN hay không?
Trả lời:
Căn cứ Tiết d.3 Điểm d Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế:
"Điều 8. Các loại thuế khai theo tháng, khai theo quý, khai theo năm, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế và khai quyết toán thuế
…d.3) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế trong các trường hợp sau đây:
Có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo, trừ các trường hợp sau: Cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống; cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo; cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này;…".
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống thì không phải nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN.
Người nộp thuế: Phan Văn Ninh-282-8
Địa chỉ: Quảng Ninh
Tôi đã ủy quyền quyết toán nhưng phát hiện thiếu thu nhập ở nơi khác, phải xử lý thế nào?
Trả lời:
Trường hợp cá nhân đã ủy quyền quyết toán cho tổ chức trả thu nhập, nhưng sau đó phát hiện còn thu nhập chưa được tổng hợp, cá nhân cần thực hiện quyết toán trực tiếp với cơ quan thuế. Khi đó, tổ chức trả thu nhập sẽ cấp chứng từ khấu trừ thuế để cá nhân làm căn cứ thực hiện quyết toán bổ sung với cơ quan thuế theo quy định.
Người nộp thuế: Lê Văn Hiệp-280-9
Địa chỉ: Thái Nguyên
Nếu nộp hồ sơ chậm có bị xử phạt không?
Trả lời:
Nếu cá nhân thuộc diện phải nộp thêm thuế sau quyết toán thì việc nộp hồ sơ chậm có thể phát sinh tiền chậm nộp theo quy định.
Tuy nhiên, đối với trường hợp chỉ đề nghị hoàn thuế, việc nộp hồ sơ muộn không bị xử phạt, người nộp thuế có thể nộp hồ sơ hoàn trong năm khi phù hợp.
Người nộp thuế: Giang Nam-281-10
Địa chỉ: Gia Lai
Tôi nghỉ việc giữa năm, công ty cũ đã giải thể, tôi phải quyết toán như thế nào?
Trả lời:
Trong trường hợp tổ chức trả thu nhập đã giải thể hoặc chấm dứt hoạt động, cá nhân thực hiện quyết toán trực tiếp với cơ quan thuế.
Cơ quan thuế sẽ căn cứ dữ liệu đã kê khai trong hệ thống quản lý thuế để xem xét và xử lý hồ sơ quyết toán cho cá nhân mà cá nhân không cần phải cung cấp chứng từ khấu trừ.
Người nộp thuế: Minh Sơn-280-11
Địa chỉ: HN
Xin hướng dẫn rõ hơn về quy trình cơ bản khi quyết toán thuế trực tuyến gồm những bước gì? Tôi thấy bảo hay bị nghẽn hệ thống không quyết toán được nên sợ bị phạt lắm?
Trả lời:
Về cơ bản, quy trình quyết toán thuế trực tuyến khá đơn giản, gồm các bước:
– Đăng nhập hệ thống (eTax Mobile hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Cục Thuế).
– Tra cứu thông tin thu nhập và nghĩa vụ thuế do tổ chức trả thu nhập đã kê khai.
– Kiểm tra tờ khai quyết toán gợi ý do hệ thống tự động tổng hợp.
– Xác nhận hoặc điều chỉnh thông tin, đính kèm tài liệu nếu cần.
– Xác nhận gửi hồ sơ quyết toán điện tử đến cơ quan thuế.
Để tránh tình trạng quá tải hệ thống vào thời điểm cao điểm quyết toán, Cục Thuế đã nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, các phần mềm hỗ trợ kê khai và hệ thống xử lý hồ sơ điện tử, đồng thời khuyến nghị người nộp thuế chủ động nộp hồ sơ sớm, không chờ đến sát thời hạn để đảm bảo việc xử lý được thuận lợi và nhanh chóng.
Người nộp thuế: Thu Hường-274-12
Địa chỉ: Hải Phòng
Cơ quan thuế hướng dẫn giúp hiện nay tôi có thể thực hiện quyết toán thuế qua những kênh nào?
Trả lời:
Hiện nay, người nộp thuế có thể thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua nhiều kênh khác nhau. Cụ thể, cá nhân có thể thực hiện quyết toán qua:
– Ứng dụng eTax Mobile trên điện thoại di động
– Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Cục Thuế
– Cổng Dịch vụ công Quốc gia
Các hệ thống này cho phép người nộp thuế tra cứu thu nhập, kiểm tra nghĩa vụ thuế, lập và nộp hồ sơ quyết toán trực tuyến, giúp việc thực hiện nghĩa vụ thuế trở nên thuận tiện hơn, có thể thực hiện mọi lúc, mọi nơi.
Người nộp thuế: Thành Trung-272-13
Địa chỉ: Ninh Bình
Nếu sau khi nộp hồ sơ mới phát hiện sai sót thì NNT có được điều chỉnh không? Thủ tục thế nào?
Trả lời:
Người nộp thuế có thể khai bổ sung, điều chỉnh hồ sơ quyết toán thuế khi phát hiện sai sót. Theo đó, NNT thực hiện lập lại tờ khai quyết toán thuế điều chỉnh (bổ sung) và nộp lại cho cơ quan thuế qua cổng thuế điện tử hoặc trực tiếp, hoặc gửi văn bản giải trình nội dung điều chỉnh và nộp bổ sung số thuế còn thiếu (nếu có) theo quy định.
Người nộp thuế: Nga-268-14
Địa chỉ: Lâm Đồng
Nếu tôi có thu nhập từ hai nơi trở lên trong năm thì xử lý như thế nào?
Trả lời:
Trường hợp cá nhân có thu nhập từ hai nơi trở lên trong năm, cần chủ động rà soát các điều kiện về ủy quyền quyết toán thuế theo quy định. Nếu đáp ứng điều kiện ủy quyền, cá nhân có thể ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập thực hiện quyết toán thay.
Trường hợp không đáp ứng điều kiện ủy quyền, cá nhân phải trực tiếp thực hiện quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế theo quy định.
Người nộp thuế: Lê Hoa-266-15
Địa chỉ: Hải Phòng
Những trường hợp nào được ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thuế thay?
Trả lời:
Theo quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ thì cá nhân cư trú ủy quyền quyết toán thuế TNCN cho đơn vị làm việc trong các trường hợp sau:
+ Cá nhân có 01 nguồn thu nhập từ hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại 01 đơn vị và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán thuế TNCN.
+ Cá nhân có 01 nguồn thu nhập từ hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên và có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% nếu cá nhân không có nhu cầu quyết toán thu nhập vãng lai này.
Người nộp thuế: Nguyễn Trà Linh-265-16
Địa chỉ: HN
Trong kỳ quyết toán năm 2026, những trường hợp nào phải tự quyết toán thuế TNCN?
Trả lời:
Theo quy định, Các trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế gồm:
– Cá nhân không đủ điều kiện ủy quyền quyết toán và có số thuế phải nộp thêm hoặc nộp thừa đề nghị hoàn/bù trừ, trừ các trường hợp: số thuế phải nộp thêm ≤ 50.000 đồng; nộp thừa nhưng không đề nghị hoàn/bù trừ.
– Cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm đầu nhưng tính trong 12 tháng liên tục từ ngày đầu tiên đến Việt Nam đạt từ 183 ngày trở lên.
– Cá nhân là người nước ngoài kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam phải quyết toán thuế trước khi xuất cảnh (có thể ủy quyền theo quy định).
– Cá nhân thuộc diện xét giảm thuế do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế, không được ủy quyền.
Người nộp thuế: Phùng Thị Xoan-262-17
Địa chỉ: Điện Biên
Quy định về việc tăng mức giảm trừ gia cảnh (bao gồm mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân), quy định mới về biểu thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công được áp dụng từ thời điểm nào?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 29 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2025 quy định như sau:
“2. Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.”
Đề nghị người nộp thuế căn cứ quy định để thực hiện.
Người nộp thuế: Nguyễn Thị Mai Lan-262-18
Địa chỉ: Lô I A 2 – đường 23 B – Xã Phúc Thịnh – Hà Nội
Công ty tôi có người lao động Nguyễn Hoài Nam (CCCD 093206006826) khi tra cứu thì có MST nhưng tên của Nguyễn Công Trứ. Hỏi thuế cơ sở 7 Cần Thơ thì báo dự liệu khớp với dữ liệu BCA. Hiện tại NLĐ đã nghỉ việc không liên hệ được, tôi xin hỏi trường hợp này doanh nghiệp phải làm thế nào để kê khai quyết toán được ạ
Trả lời:
Đối với trường hợp này, NNT gửi thông tin chi tiết mã số thuế của NNT và mã hồ sơ về Nhóm hỗ trợ Thuế điện tử của Cục Thuế theo email nhomhttdt@gdt.gov.vn để được hỗ trợ kịp thời.
Người nộp thuế: Công ty TNHH SPX Express-249-19
Địa chỉ: Lê lợi TP Hồ Chí Minh
Công ty TNHH SPX Express đề nghị cơ quan thuế xem xét, hướng dẫn: Với bản chất hợp đồng dịch vụ đang ký kết với cá nhân không đăng ký kinh doanh, SPX áp dụng khấu trừ thuế TNCN ở mức 10% hoặc biểu lũy tiến từng phần, ở từng giai đoạn đã nêu là phù hợp với Thông tư 111/2013/TT-BTC hay chưa? Với cùng nội dung và hình thức hợp đồng dịch vụ tương tự mà Công ty ký kết với cá nhân nhưng sau đó cá nhân có đăng ký kinh doanh. Trên cơ sở bản chất vẫn là quan hệ hợp đồng dịch vụ, Công ty có phải khấu trừ thuế GTGT và TNCN theo Thông tư 40/2021/TT-BTC ngày 01/06/2021 của Bộ Tài chính hay không? Với cùng nội dung và hình thức hợp đồng dịch vụ tương tự, Công ty ký kết với cá nhân có đăng ký kinh doanh thì quan hệ hợp đồng này có cơ sở để cơ quan nhà nước đơn phương xem là hợp đồng hợp tác kinh doanh hay không? Và Công ty có phải khấu trừ thuế TNCN theo quy định đối với cá nhân hợp tác kinh doanh tính từ thời điểm cơ quan nhà nước đơn phương thay đổi bản chất hợp đồng thành quan hệ hợp đồng hợp tác kinh doanh hay không?
Trả lời:
Căn cứ khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 ngày 17/6/2020 và khoản 5 Điều 7 Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế;
Căn cứ Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế thu nhập cá nhân;
Việc xác định nghĩa vụ khấu trừ, kê khai, nộp thuế của tổ chức chi trả thu nhập và cá nhân được xác định như sau:
– Trường hợp tổ chức chi trả ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân thì thực hiện khai thuế GTGT đối với toàn bộ doanh thu của hoạt động hợp tác kinh doanh, đồng thời khai thay và nộp thay thuế TNCN cho cá nhân hợp tác kinh doanh theo quy định tại khoản 5 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ.
– Trường hợp tổ chức chi trả ký hợp đồng có thỏa thuận với cá nhân việc làm dịch vụ và chi trả thu nhập cho người lao động thì khoản thu nhập cá nhân nhận được là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập tính thuế và thuế suất áp dụng theo Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Luật thuế TNCN. Tổ chức chi trả thực hiện khấu trừ, kê khai, nộp thuế theo các quy định hiện hành về quản lý thuế.
Tổ chức chi trả ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên với cá nhân thì thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu lũy tiến từng phần theo quy định tại điểm b.1 khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
Tổ chức chi trả không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng với cá nhân không kinh doanh thì tổ chức chi trả có trách nhiệm khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân nếu tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
Trên cơ sở mô hình hoạt động của Công ty và mối quan hệ của Công ty với cá nhân tài xế/ bưu tá, Công ty thực hiện khấu trừ, kê khai thuế TNCN theo quy định.
Người nộp thuế: Nguyễn Thúy Nga-246-20
Địa chỉ: TP HCM
Trong năm 2025 tôi chỉ phát sinh thu nhập từ tiền lương, tiền công tại Công ty TNHH SPX Express. Nay tôi xin được Chi cục Thuế Thương mại điện tử hướng dẫn, làm rõ một số nội dung là: 1. Tôi là cá nhân cư trú, trong năm 2025 tôi chỉ có thu nhập từ tiền lương một nơi duy nhất, tôi không có nhu cầu ủy quyền cho Công ty quyết toán thay thì tôi có thể tự quyết toán thuế thu nhập cá nhận được không? 2. Về việc giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc Tháng 07 năm 2023 tôi nộp hồ sơ trực tuyến đăng ký người phụ thuộc là 2 con của tôi tại cơ quan thuế cư trú – Chi cục Thuế Hai Bà Trưng và đã đăng ký thành công, bắt đầu giảm trừ tháng 01/2023 và không chọn thời gian kết thúc giảm trừ. Vậy nếu tôi không nộp hồ sơ đăng ký người phụ thuộc thông qua Công ty TNHH SPX Express thì tôi có được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi tôi trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN năm 2025 không? Có bắt buộc phải đăng ký thông qua cơ quan chi trả thì cá nhân mới được cơ quan thuế tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc không?
Trả lời:
1. Căn cứ quy định tại điểm d.2 và điểm d.3 khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ nêu trên, đề nghị người nộp thuế căn cứ tình hình nhận thu nhập từ tiền lương, tiền công thực hiện:
Trường hợp trong năm cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương tiền công tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện việc quyết toán thuế thì có thể ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập.
Tại thời điểm quyết toán thuế TNCN, trường hợp cá nhân chưa ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập và xác định có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo thì thực hiện trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế trừ các trường hợp quy định tại điểm d.3 khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP.
2. Căn cứ quy định tại điểm c.2.2, c.2.3, h.2.1 khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính nêu trên, đề nghị người nộp thuế thực hiện:
Đăng ký người phụ thuộc lần đầu với cá nhân, tổ chức chi trả thu nhập làm căn cứ tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ thời điểm đăng ký. Khi có thay đổi (tăng, giảm) về người phụ thuộc (gồm cả trường hợp thay đổi tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập tính giảm trừ cho người phụ thuộc) thì thực hiện khai bổ sung thông tin thay đổi của người phụ thuộc theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập làm căn cứ tính giảm trừ cho người phụ thuộc trong năm.
Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế qua cơ quan chi trả thì được đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc và tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế theo quy định.
Người nộp thuế: Lã Việt Anh-245-21
Địa chỉ: An Phú tỉnh Bình Dương
Tôi là cá nhân cư trú, trong năm 2025 tôi chỉ có thu nhập từ tiền lương một nơi duy nhất, tôi không có nhu cầu ủy quyền cho Công ty quyết toán thay thì tôi có thể tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân được không?
Trả lời:
Tại điểm d.2 và điểm d.3 khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định:
d.2) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cụ thể như sau:
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện việc quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm. Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới theo quy định tại điểm d.1 khoản này thì cá nhân được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức mới.
d.3) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân với cơ quan thuế trong các trường hợp sau đây:
Có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo, trừ các trường hợp sau: cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống; …
Căn cứ quy định nêu trên, để đơn giản thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, trường hợp trong năm cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương tiền công tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện việc quyết toán thuế thì cá nhân thực hiện ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập.
Tại thời điểm quyết toán thuế TNCN, trường hợp cá nhân chưa ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập và xác định có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo thì thực hiện trực tiếp khai quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế trừ các trường hợp quy định tại điểm d.3 khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP.
Người nộp thuế: Phạm Thái Hòa-243-22
Địa chỉ: TP HCM
Người nộp thuế là cá nhân cư trú tại Việt Nam có hoạt động đăng tải video lên nền tảng Youtube. Thu nhập từ các lượt xem quảng cáo được tổng hợp theo nhiều quốc gia khác nhau (Thu nhập đối với các lượt xem tại Hoa Kỳ đã bị khấu trừ 30% thuế). Người nộp thuế đề nghị hướng dẫn về xác định doanh thu, thuế suất thuế GTGT, thuế TNCN phải nộp tại Việt Nam.
Trả lời:
– Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 quy định về đối tượng nộp thuế;
– Căn cứ Điểm d Khoản 3 Điều 17 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng;
– Căn cứ Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 1/6/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn thuế GTGT, thuế TNCN và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh;
– Căn cứ Điểm e.1 khoản 2 điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân;
Việc xác định doanh thu và thuế suất thuế TNCN, GTGT của cá nhân có doanh thu từ hoạt động kinh doanh trên nền tảng số nước ngoài (Youtube) như sau:
– Về thuế thu nhập cá nhân:
Cá nhân cư trú tại Việt Nam có thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Thuế suất thuế thu nhập cá nhân thực hiện theo Phụ lục I Thông tư số 40/2021/TT-BTC:
“Dịch vụ xử lý dữ liệu, cho thuê cổng thông tin, thiết bị công nghệ thông tin, viễn thông; quảng cáo trên sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số”
với mức thuế suất thuế TNCN là 2%.
Trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam thì thực hiện theo Hiệp định.
Trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước ngoài đã tính và nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của nước ngoài thì được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài. Số thuế được trừ không vượt quá số thuế phải nộp tính theo biểu thuế của Việt Nam tính phân bổ cho phần thu nhập phát sinh tại nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân.
– Về thuế giá trị gia tăng:
Trường hợp các sản phẩm dịch vụ, nội dung thông tin số cung cấp cho bên nước ngoài và nhận doanh thu quảng cáo từ tiêu dùng (lượt xem) tại Việt Nam thì doanh thu thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15. Mức thuế suất thuế giá trị gia tăng thực hiện theo Phụ lục I Thông tư số 40/2021/TT-BTC:
“Dịch vụ xử lý dữ liệu, cho thuê cổng thông tin, thiết bị công nghệ thông tin, viễn thông; quảng cáo trên sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số”
với mức thuế suất thuế GTGT là 5%.
Người nộp thuế: Đoàn Văn Thắng-234-1
Địa chỉ: Tân Định tỉnh Khánh Hòa
Công ty có nhân viên làm hết tháng 10/2025 và nghỉ. Họ có làm giấy ủy quyền quyết toán thuế TNCN 2025. Vậy cuối năm Công ty có được quyền quyết toán thay cho nhân viên đó không? Tiền thuế TNCN của nhân viên theo hợp đồng lao động là công ty nộp, không trừ lương nhân viên.
Trả lời:
Căn cứ điểm d.2 khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân:
“Điều 8. Các loại thuế khai theo tháng, khai theo quý, khai theo năm, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế và khai quyết toán thuế
…d.2) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cụ thể như sau:
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm; đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
….”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp người lao động đã nghỉ việc từ tháng 10/2025, đến thời điểm Công ty thực hiện quyết toán thuế TNCN năm 2025, người lao động không còn làm việc tại Công ty, do đó không đáp ứng điều kiện ủy quyền quyết toán thuế.
Người nộp thuế: Lã Thị Thu Hằng-233-2
Địa chỉ: Cửa Nam Hà Nội
Tôi xin hỏi, khoản 8 Điều 4 quy định "Tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật" là thu nhập được miễn thuế. Theo đó, chúng tôi chưa rõ là thu nhập từ các khoản nêu trên là tổng tiền lương làm việc ban đêm làm thêm giờ/ tiền công của ngày không nghỉ phép hay là phần thu nhập được trả cao hơn so với mức tiền công, tiền lương được tính theo ngày làm việc bình thường?
Trả lời:
Tại Khoản 8 Điều 4 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 quy định về thu nhập miễn thuế: "8. Tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật là thu nhập miễn thuế".
Căn cứ quy định nêu trên, Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 đã quy định tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật là thu nhập miễn thuế.
Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (Nghị định, Thông tư) theo đúng thẩm quyền để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện.
Người nộp thuế: Yến Nhi-234-3
Địa chỉ: Vĩnh Long
Theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nội dung liên quan đến thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú vẫn đang chờ Nghị định và thông tư hướng dẫn. Trong khi đó, Thông tư số 111/2013/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung vẫn còn hiệu lực. Tôi xin hỏi từ tháng 01/2026, việc thực hiện thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công có tiếp tục áp dụng theo Thông tư số 111/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung hay không?
Trả lời:
Căn cứ Điều 59 Luật số 64/2025/QH15 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; căn cứ Điều 29 Luật thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 của Quốc hội thì trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì thực hiện theo văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Theo đó, kể từ ngày 01/01/2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được thực hiện theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15.
Đối với các nội dung khác thì tiếp tục thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư 111/2013/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung cho đến khi Luật thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực thi hành đầy đủ từ ngày 01/7/2026.
Người nộp thuế: Lê Thanh Vân-229-4
Địa chỉ: Gia Lai
Trong năm 2025, tôi làm việc tại Công ty A, sau đó được điều chuyển sang Công ty B (cả hai đơn vị đều thuộc cùng một hệ thống doanh nghiệp và việc điều chuyển không làm chấm dứt hợp đồng lao động trong hệ thống). Ngoài thu nhập từ tiền lương, tiền công tại các đơn vị này, tôi còn có thu nhập vãng lai tại Công ty C, với mức chi trả không quá 10 triệu đồng/lần và đã được khấu trừ thuế TNCN 10% tại nguồn. Vậy trong trường hợp này, tôi có được ủy quyền cho Công ty B thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay hay không?
Trả lời:
Căn cứ tiết d.3 điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp cá nhân điều chuyển từ tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng hệ thống và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức trả thu nhập quyết toán thuế, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này thì được ủy quyền quyết toán thuế TNCN cho tổ chức trả thu nhập.
Người nộp thuế: Trịnh Thị Bình-220-5
Địa chỉ: Hưng Yên
Trong năm 2025 tôi làm việc tại Công ty A từ tháng 01 đến tháng 08, sau đó chuyển sang Công ty B từ tháng 09 đến tháng 12. Xin hỏi bây giờ Tôi phải nộp hồ sơ quyết toán năm 2025 tại cơ quan thuế quản lý Công ty A hay Công ty B?
Trả lời:
Căn cứ điểm b.2 khoản 8 Điều 11 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 3 Nghị định số 373/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 14/02/2026), quy định:
“b.2) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện tổ chức trả thu nhập khấu trừ tại nguồn từ hai nơi trở lên thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức trả thu nhập lớn nhất trong năm. Trường hợp có nhiều nguồn thu nhập lớn nhất trong năm mà các nguồn thu nhập đó bằng nhau thì cá nhân nộp hồ sơ quyết toán tại một trong những cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức chi trả các nguồn thu nhập lớn nhất.”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp trong năm 2025 Bạn có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại Công ty A và Công ty B, khi trực tiếp quyết toán thuế thu nhập cá nhân: (i) Nếu thu nhập tại Công ty A lớn hơn thì nộp hồ sơ quyết toán thuế tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp Công ty A; (ii) Nếu thu nhập tại Công ty B lớn hơn thì nộp hồ sơ quyết toán thuế tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp Công ty B; (iii) Trường hợp thu nhập tại hai công ty bằng nhau thì Bạn được lựa chọn nộp hồ sơ tại một trong hai cơ quan thuế quản lý trực tiếp các công ty đó theo quy định.
Người nộp thuế: Mai Hoàng Yến-208-6
Địa chỉ: Đăk Lăk
Đề nghị Cục Thuế cho biết khi thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2025 thì áp dụng mức giảm trừ gia cảnh mới hay vẫn áp dụng mức giảm trừ gia cảnh hiện hành?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 ngày 02/6/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 110/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thay thế quy định hiện hành tại Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 thì:
– Đối với kỳ quyết toán năm 2025, mức giảm trừ gia cảnh được xác định theo quy định tại Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 ngày 02/6/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cụ thể như sau:
+ Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm);
+ Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.
Kể từ kỳ tính thuế năm 2026 (từ ngày 01/01/2026), mức giảm trừ gia cảnh được điều chỉnh theo Nghị quyết số 110/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thay thế quy định hiện hành tại Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14, theo đó, mức giảm trừ gia cảnh mới được quy định như sau:
+ Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (tương đương 186 triệu đồng/năm).
+ Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
Người nộp thuế: Đoàn Ngọc Diệp-199-1
Địa chỉ: Thanh Thủy TP Huế
Người lao động có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại hai nơi. Người lao động đã đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại Công ty A. Vậy người lao động có được tiếp tục đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại Công ty B hay không?
Trả lời:
Căn cứ điểm c.1 khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì trường hợp người lao động có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại nhiều nơi thì tại cùng một thời điểm (tính theo tháng) chỉ được đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi.
Do đó, nếu người lao động đã đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại Công ty A thì không được tiếp tục đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại Công ty B trong cùng một thời điểm.
Người nộp thuế: Tô Thanh Hà-195-2
Địa chỉ: P Hà Huy Tập tỉnh Hà Tĩnh
Ngày 05/12, Công ty tôi đã chi trả lương tháng 12/2025 và đã khấu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiến từng phần. Đến cuối tháng 12/2025 có chi thêm khoản thưởng Tết 500.000 đồng/người và tạm khấu trừ thuế TNCN 5%. Vậy việc khấu trừ riêng 5% đối với khoản thưởng này có đúng quy định hay không, hay phải cộng gộp khoản thưởng vào thu nhập tiền lương tháng 12/2025 để tính thuế theo biểu lũy tiến?
Trả lời:
Căn cứ Điều 11 Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 và Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức trả thu nhập cho người lao động. Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
Theo đó, khoản tiền thưởng tết mà Công ty chi trả vào cuối tháng 12/2025 cũng là thu nhập từ tiền lương, tiền công và cộng gộp khoản này vào thu nhập chịu thuế của tháng 12/2025 để tính thuế thu nhập cá nhân theo biểu lũy tiến từng phần.
Người nộp thuế: Hoàng Minh Phong-188-3
Địa chỉ: Cty HSS Hà Nội
Đề nghị Cục Thuế hướng dẫn, trường hợp người lao động làm việc tại doanh nghiệp chưa đủ 12 tháng trong năm tính thuế thì có được ủy quyền cho doanh nghiệp thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay hay không? Điều kiện thực hiện ủy quyền trong trường hợp này được quy định như thế nào?
Trả lời:
Câu hỏi của Bạn chưa cung cấp đầy đủ thông tin để xác định chính xác trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, việc ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân được thực hiện theo quy định tại điểm d.2 khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, cụ thể:
“d.2) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cụ thể như sau:
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện việc quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm. Trường hợp cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới theo quy định tại điểm d.1 khoản này thì cá nhân được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức mới.
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm; đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này”.
Đề nghị Bạn căn cứ vào tình hình thực tế của mình để thực hiện theo quy định nêu trên.
Người nộp thuế: Hoàng Đại-183-4
Địa chỉ: Nghi Sơn Thanh Hóa
Doanh nghiệp chúng tôi trong năm không phát sinh trường hợp người lao động phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Xin hỏi Cục Thuế, trong trường hợp này doanh nghiệp có phải thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân hay không? Nếu có thì hồ sơ thực hiện quyết toán như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại điểm d.1, khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ thì trường hợp trong năm doanh nghiệp không phát sinh chi trả thu nhập từ tiền lương, tiền công cho cá nhân thì không phải thực hiện khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp doanh nghiệp có phát sinh chi trả thu nhập từ tiền lương, tiền công cho người lao động nhưng không phát sinh số thuế thu nhập cá nhân phải khấu trừ thì hồ sơ khai quyết toán thuế TNCN thực hiện theo Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính, gồm Tờ khai mẫu số 05/QTT-TNCN và các phụ lục bảng kê kèm theo (nếu có).
Người nộp thuế: Đoàn Thị Lê-180-5
Địa chỉ: Mậu Thạch Nghệ An
Tại sao thu nhập hiển thị trên eTax Mobile lại khác với thu nhập trên chứng từ khấu trừ thuế TNCN do công ty cấp? Tôi phải khai quyết toán thuế TNCN theo số nào ạ?
Trả lời:
Việc chênh lệch giữa dữ liệu trên eTax Mobile và chứng từ khấu trừ thuế TNCN có thể xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
– Dữ liệu trên eTax được tổng hợp từ tờ khai quyết toán thuế TNCN (mẫu 05/QTT-TNCN) do các tổ chức trả thu nhập gửi cho cơ quan thuế. Do đó, khi tổ chức trả thu nhập có thể kê khai điều chỉnh hoặc bổ sung tờ khai thuế sau khi đã cấp chứng từ khấu trừ, dẫn đến số liệu trên eTax được cập nhật khác với chứng từ đã cấp trước đó.
– Một số trường hợp tổ chức trả thu nhập kê khai sai mã số thuế cá nhân, sai thu nhập hoặc sai số thuế khấu trừ, khiến dữ liệu hiển thị trên hệ thống chưa chính xác.
Trong trường hợp bạn phát hiện chênh lệch số liệu, bạn có thể liên hệ với công ty và đối chiếu để xác định nguyên nhân và đề nghị điều chỉnh tờ khai quyết toán thuế TNCN của tổ chức (nếu có sai sót) trước khi thực hiện quyết toán thuế TNCN.
Người nộp thuế: Lê Thu Hương-179-6
Địa chỉ: HN
Tôi nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN cho công ty tôi nhưng hệ thống cứ trả lỗi không đạt tại Phụ lục 05-3/BK-NPT mà không cho nộp? Tôi phải xử lý sao để kịp còn nộp?
Trả lời:
Trường hợp hồ sơ quyết toán thuế TNCN của doanh nghiệp bị hệ thống báo “không đạt” tại Phụ lục 05-3/BK-QTT-TNCN, nguyên nhân thường nằm ở dữ liệu người phụ thuộc trên từng dòng của phụ lục 05-3. Bạn cần mở lại Phụ lục 05-3/BK-QTT-TNCN để kiểm tra cụ thể dòng nào đang lỗi, dòng nào chưa được báo đạt, sau đó rà soát và cập nhật lại thông tin của người phụ thuộc trước khi nộp lại hồ sơ.
Khi phụ lục 05-3 bị lỗi, bạn có thể kiểm tra các nội dung sau đối với từng người phụ thuộc:
– Đối chiếu thông tin định danh của người phụ thuộc có khớp với dữ liệu quốc gia về dân cư hay không: họ tên, ngày sinh, số CCCD/số định danh/số giấy khai sinh.
– Người phụ thuộc đã được đăng ký theo quy định hay chưa. Nếu trước đó doanh nghiệp chưa thực hiện đăng ký người phụ thuộc cho người lao động thì cần hoàn thành, vì để được tính giảm trừ gia cảnh trên Phụ lục 05-3/BK-QTT-TNCN, tổ chức trả thu nhập phải thực hiện thủ tục đăng ký người phụ thuộc theo quy định.
Tuy nhiên, trước thời điểm quyết toán, số lượng hồ sơ nộp tăng cao, tập trung vào những ngày cuối cùng của thời hạn nộp, có thể dẫn đến tình trạng quá tải hệ thống hoặc chậm trả thông tin kiểm tra hồ sơ; để chủ động trong việc kê khai và tránh rủi ro nộp chậm tờ khai, cơ quan thuế khuyến khích người nộp thuế thực hiện nộp hồ sơ sớm, không chờ đến sát thời hạn.
Người nộp thuế: Phạm Tuấn Trường-156-7
Địa chỉ: Đông Triều Quảng Ninh
Tôi tra cứu trên eTax Mobile thấy có số thuế nộp thừa năm 2021. Vậy giờ tôi thực hiện quyết toán thuế TNCN năm 2021 và đề nghị hoàn số thuế thừa có được hay không, có bị phạt vì chậm nộp hồ sơ không?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 141 Luật quản lý thuế số 38 năm 2019 quy định:
“2. Không xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế trong các trường hợp sau đây:
…
b) Cá nhân trực tiếp quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân mà có phát sinh số tiền thuế được hoàn;”
Tại khoản 4, Điều 28 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính quy định: “Trường hợp cá nhân có phát sinh hoàn thuế thu nhập cá nhân nhưng chậm nộp tờ khai quyết toán thuế theo quy định thì không áp dụng phạt đối với vi phạm hành chính khai quyết toán thuế quá thời hạn.”
Như vậy, trường hợp của bạn năm 2021 có phát sinh số thuế TNCN nộp thừa nhưng chưa thực hiện quyết toán thuế TNCN năm 2021 thì đến thời điểm hiện tại, bạn vẫn có thể nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2021 (chính là hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNCN). Hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNCN năm 2021 bạn nộp sau ngày hết hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế TNCN năm 2021 thì không bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nộp hồ sơ khai quyết toán thuế TNCN quá thời hạn theo quy định nêu trên.
Người nộp thuế: văn Anh-150-8
Địa chỉ: Ninh Bình
A/c cho tôi xin số điện thoại của phòng quản lý hộ kinh doanh của thuế cơ sở 6 thành phố hà nội? thuế cơ sở 6 TP Hà Nội có số hotline nhưng gọi không ai bắt máy!
Trả lời:
Để có thông tin cán bộ thuế, số điện thoại hỗ trợ của thuế cơ sở 6 Thành phố Hà Nội, NNT vui lòng truy cập vào trang web https://www.gdt.gov.vn/, chọn mục "Công khai danh sách công chức hỗ trợ người nộp thuế" để có thông tin.
Trân trọng!
Người nộp thuế: Trần Thanh Bé Ba-144-9
Địa chỉ: Dầu Tiếng Bình Dương
Ngoài văn phòng, tôi cũng có bán hàng online TikTok, YouTube hoặc Facebook. Khi quyết toán thuế TNCN, tôi thấy kế toán bảo không được ủy quyền và có phải kê khai khoản thu nhập này không?
Trả lời:
Trường hợp cá nhân có thu nhập từ hoạt động kinh doanh trên nền tảng số (TikTok, YouTube, Facebook, livestream, bán hàng online…) thì khoản thu nhập này không thuộc thu nhập tiền lương, tiền công mà được xác định là thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Do đó cá nhân không quyết toán chung trong hồ sơ quyết toán thuế TNCN tiền lương, mà phải kê khai, nộp thuế theo quy định đối với hoạt động kinh doanh.
Người nộp thuế: Nguyễn Thành Đạt-134-10
Địa chỉ: Bình Thạnh TP HCM
Với nhân viên làm việc chưa tròn 12 tháng thì có uỷ quyền cho đơn vị quyết toán thuế TNCN được không?
Trả lời:
Câu hỏi của bạn chưa có đầy đủ thông tin để có thể trả lời chính xác. Tuy nhiên, về nguyên tắc cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập nếu đáp ứng các điều kiện được quy định tại điểm d2 khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ.
Trường hợp người lao động là cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại công ty và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm công ty thực hiện việc quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm thì người lao động có thể ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân cho công ty. Công ty có trách nhiệm quyết toán thuế TNCN thay cho cá nhân có ủy quyền.
Người nộp thuế: Bé Vy-126-11
Địa chỉ: Khánh Hòa
Năm 2025, Em làm tại 1 công ty năm 2025, nhưng từ tháng 1-4 Em có thêm hợp đồng cộng tác, vậy Em có được uỷ quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân cho công ty hay không?
Trả lời:
Câu hỏi của bạn hiện chưa cung cấp đầy đủ thông tin để trả lời chính xác.
Về nguyên tắc, theo quy định tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP, trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một công ty và tại thời điểm quyết toán vẫn đang làm việc tại công ty đó, đồng thời có thêm thu nhập vãng lai bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã bị khấu trừ thuế TNCN 10%, nếu cá nhân không có nhu cầu quyết toán đối với khoản thu nhập vãng lai này thì cá nhân có thể ủy quyền cho công ty thực hiện quyết toán thuế thay.
Tuy nhiên, nếu bạn muốn quyết toán thuế đối với toàn bộ thu nhập trong năm (bao gồm cả thu nhập từ hợp đồng lao động và thu nhập từ hợp đồng cộng tác), thì bạn phải trực tiếp thực hiện quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế.
Bạn có thể tham khảo quy định nêu trên, đối chiếu với trường hợp của bạn trên thực tế để xác định nghĩa vụ quyết toán thuế TNCN của bản thân.
Người nộp thuế: Nguyễn Văn Sỹ-119-12
Địa chỉ: Anh Sơn Nghệ An
Không lấy được chứng từ khấu trừ thuế Công ty cũ đã không còn hoạt động thì tôi có quyết toán thuế TNCN được không?
Trả lời:
Theo quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp tổ chức trả thu nhập không cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân do tổ chức trả thu nhập đã chấm dứt hoạt động thì cơ quan thuế căn cứ cơ sở dữ liệu của ngành thuế để xem xét xử lý hồ sơ quyết toán thuế cho cá nhân mà không bắt buộc phải có chứng từ khấu trừ thuế. Vì vậy, NNT vẫn có thể nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN mà không cần phải đính kèm chứng từ khấu trừ thuế TNCN do tổ chức trả thu nhập đã chấm dứt hoạt động.
Người nộp thuế: Lý Việt Tiến-112-13
Địa chỉ: phường Lương Văn Tri tỉnh Lạng Sơn
Cá nhân tôi làm việc tại 2 công ty nhưng tổng thu nhập 2 nơi dưới mức đóng thuế TNCN. Vậy có làm hồ sơ quyết toán thuế TNCN không?
Trả lời:
Căn cứ điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, trường hợp cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống thì cá nhân không thuộc diện phải trực tiếp quyết toán thuế TNCN với cơ quan thuế.
Đối với trường hợp của anh/chị, để có thể xác định chính xác, anh/chị có thể cài đặt ứng dụng eTax Mobile, tra cứu thông tin và hướng dẫn trên ứng dụng về việc thực hiện quyết toán thuế TNCN của bản thân.
Người nộp thuế: Lại Văn Tiên-106-14
Địa chỉ: Tân Thành Thái Nguyên
Trong tờ khai thuế TNCN tháng, doanh nghiệp khai và nộp đủ số thuế đã khấu trừ từ tiền lương của Người lao động, tuy nhiên khi khai thu nhập chịu thuế thì bị thiếu. Khi quyết toán công ty đã kê khai đủ thu nhập chịu thuế. Vậy công ty có phải nộp tờ khai bổ sung tháng mà khai thiếu số thu nhập chịu thuế không hay chỉ cần kê khai đủ trong quyết toán?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, trường hợp khi khai quyết toán thuế nếu tổng thu nhập chịu thuế, tổng số thuế TNCN đã khấu trừ có phát sinh chênh lệch với thu nhập chịu thuế, số đã khấu trừ hàng tháng/quý trong năm thì người nộp thuế cần kiểm tra để xác định rõ nguyên nhân chênh lệch; trường hợp chênh lệch do kê khai sai, khai sót hoặc khấu trừ thiếu trong kỳ kê khai tháng, quý trong năm thì người nộp thuế thực hiện giải trình khai bổ sung hoặc khai bổ sung hồ sơ khai thuế tháng quý theo quy định tại khoản 4, Điều 7, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Bộ Tài chính.
Người nộp thuế: Hoàng Phi-98–15
Địa chỉ: Đồng Nai
Chào anh chị, tôi có câu hỏi như sau: Khi thực hiện quyết toán thuế TNCN, tại doanh nghiệp chúng tôi có một số trường hợp cá nhân có số thuế phải nộp thêm là 50.000 đồng hoặc thấp hơn. Vậy chúng tôi có phải kê khai những cá nhân này tại tờ khai quyết toán thuế TNCN hay không?
Trả lời:
Căn cứ điềm d, Khoản 6, Điều 8, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020, trường hợp cá nhân uỷ quyền quyết toán thuế TNCN cho tổ chức và có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán từ 50.000 đồng trở xuống thuộc diện được miễn thuế thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn kê khai thu nhập của những cá nhân này tại hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân của tổ chức và không tổng hợp số thuế phải nộp thêm của các cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán từ 50.000 đổng trở xuống.
Như vậy, đối với những cá nhân ủy quyền quyết toán có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán từ 50.000 đổng trở xuống, doanh nghiệp vẫn cần thực hiện kê khai thu nhập của những cá nhân này tại tờ khai quyết toán thuế TNCN.
Người nộp thuế: Phạm Thúy Quỳnh-94–16
Địa chỉ: Hải Phòng
Tiền thuế TNCN đã nộp thừa của năm 2024 có tính trừ khi nộp thuế TNCN của năm 2025 hoặc 2026 được không
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 60 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, người nộp thuế có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế phải nộp thì được trừ số tiền thuế nộp thừa vào số tiền thuế phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo. Như vậy, đối với trường hợp của NNT, nếu NNT có số tiền thuế TNCN nộp thừa kỳ quyết toán 2023, NNT có thể đề nghị bù trừ số tiền thuế nộp thừa bù trừ cho các phát sinh của kỳ sau tại chỉ tiêu [48] trên Tờ khai quyết toán thuế TNCN mẫu số 02/QTT-TNCN (ban hành kèm theo Thông tư số 80/2021/TT-BTC).
Người nộp thuế: Ngọc Hiếu-60–17
Địa chỉ: Phường Yên Bái – Tỉnh Lào Cai
Công ty tôi có sáp nhập từ công ty A nhập vào công ty B trong năm 2025, Hiện tại tôi đang thực hiện quyết toán thuế TNCN cho người lao động của công ty A chuyển sang công ty B làm việc. Vậy NLĐ đã làm việc tại công ty A cũ có được ủy quyền cho công ty B quyết toán thay không. Và nếu được ủy quyền QT thì nhập tổng thu nhập của NLĐ và số thuế đã khấu trừ trong năm lên tờ khai 05QT như thế nào. Nếu tôi nhập tổng thu nhập và số thuế đã khấu trừ cả năm của NLĐ vào tờ khai của Cty B (gồm cả số của cty A và cty B trả cho NLĐ) thì số liệu sẽ nhiều hơn số đã kê khai từng tháng trên tờ khai 05KK của cty B, như vậy tờ khai 05QT có được chấp nhận không. Kính mong cục thuế hướng dẫn trường hợp trên.
Trả lời:
Căn cứ quy định tại tiết d1 điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 13/10/2020 của Chính phủ quy định, trường hợp năm 2025, công ty A sáp nhập vào công ty B và công ty B tiếp nhận người lao động từ Công ty A thì người lao động có thể ủy quyền cho công ty B quyết toán thuế TNCN năm 2025 và công ty B có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền đối với cả phần thu nhập do công ty A chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do công ty A đã cấp cho người lao động (nếu có).
Công ty B thực hiện kê khai như sau:
– Đánh dấu Chỉ tiêu [04] Tổ chức có quyết toán thuế theo uỷ quyền của cá nhân được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc điều chuyển trong cùng hệ thống tại Tờ khai 05/QTT-TNCN;
– Trên Phụ lục bảng kê 05-1/BK-QTT-TNCN, kê khai các chỉ tiêu:
+ Chỉ tiêu [12] Tổng thu nhập chịu thuế: Bao gồm thu nhập tại cả công ty A và công ty B;
+ Chỉ tiêu [13] Trong đó: TNCT tại tổ chức trước khi điều chuyển: Kê khai thu nhập tại công ty A.
+ Chỉ tiêu [22] Tổng số thuế TNCN đã khấu trừ: Bao gồm số thuế đã khấu trừ tại cả cả công ty A và công ty B;
+ Chỉ tiêu [23]: Trong đó: Số thuế đã khấu trừ tại tổ chức trước khi điều chuyển: Kê khai số thuế đã khấu trừ tại Công ty A.
Người nộp thuế: Thảo-58–18
Địa chỉ: Hà Nội
CN người nước ngoài có QT năm đầu tiên kể từ ngày đầu tiên 01/09/2025-> 30/08/2026, nộp hồ sơ QT vào T12/2025 thừa thuế 10tr đã điền chỉ tiêu[48]- bù trừ cho các phát sinh của kỳ sau. Vậy, có thể bù trừ 10tr này với số thuế phải nộp của Q1.2026 không
Trả lời:
Theo quy định của Luật Quản lý thuế, người nộp thuế có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế phải nộp thì được trừ số tiền thuế nộp thừa vào số tiền thuế phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo. Như vậy, đối với trường hợp của NNT là cá nhân nước ngoài, nếu NNT có số tiền thuế TNCN nộp thừa theo quyết toán, NNT có thể đề nghị bù trừ số tiền thuế nộp thừa bù trừ cho các phát sinh của kỳ sau (như kỳ Qúy 1 năm 2026 nếu phát sinh) tại chỉ tiêu [48] trên Tờ khai quyết toán thuế TNCN mẫu số 02/QTT-TNCN.
Người nộp thuế: Đoàn Văn Lễ-53–19
Địa chỉ: Tuyên Quang
Anh chị cho tôi hỏi, tôi đã đăng ký giảm trừ cho mẹ tôi là người phụ thuộc từ tháng 02/2025. Trước khi quyết toán thuế TNCN năm 2025, tôi có thể thay đổi người phụ thuộc là mẹ tôi sang cho chồng tôi để được giảm trừ gia cảnh năm 2025 hay không?
Trả lời:
Tại điểm c.2.4 khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định:
“c.2.4) Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế.”
Căn cứ quy định nêu trên thì một người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ cho một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp NNT đã đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc là mẹ đẻ từ tháng 02/2025, thì trong năm 2025, NPT này chỉ được tính giảm trừ gia cảnh cho NNT kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng (từ tháng 02/2025). Vì vậy, đối với kỳ quyết toán thuế TNCN năm 2025, thành viên khác trong gia đình sẽ không được đăng ký giảm trừ gia cảnh cho NPT này nữa.
Trường hợp anh/chị muốn thay đổi đăng ký giảm trừ NPT để các thành viên khác trong gia đình thì anh/chị phải thực hiện thay đổi đăng ký giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc này để kết thúc tính giảm trừ gia cảnh cho anh/chị, và thành viên khác sẽ thực hiện đăng ký giảm trừ gia cảnh cho NPT này. Tuy nhiên, anh/chị lưu ý khi thay đổi người phụ thuộc cần phải đảm bảo nguyên tắc: “Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế.”
Người nộp thuế: Vương Thanh Huyền-47–20
Địa chỉ: Hà Nội
Tôi muốn hỏi về thủ tục hoàn thuế TNCN đối với trường hợp Công ty đóng tiền thuế TNCN cho người lao động. Vậy số tiền đó thì người lao động có được hoàn không? và có phải trả lại cho công ty không? Hay người lao động sẽ được hưởng số tiền đó. Tôi xin cảm ơn.
Trả lời:
Tại Khoản 2 Điều 28 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 quy định:
"Điều 28. Hoàn thuế
…2. Đối với cá nhân đã ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thay thì việc hoàn thuế của cá nhân được thực hiện thông qua tổ chức, cá nhân trả thu nhập. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu của các cá nhân. Sau khi bù trừ, nếu còn số thuế nộp thừa thì được bù trừ vào kỳ sau hoặc hoàn thuế nếu có đề nghị hoàn trả".
Căn cứ quy định nêu trên,trường hợp bạn ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân cho Công ty thực hiện quyết toán thuế thay và bạn có số tiền đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp; hoặc bạn đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế thì bạn thuộc trường hợp nộp thừa số thuế thu nhập cá nhân. Về phía tổ chức: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu của các cá nhân. Sau khi bù trừ, nếu còn số thuế nộp thừa thì được bù trừ vào kỳ sau hoặc hoàn thuế nếu có đề nghị hoàn trả.
Người nộp thuế: Công ty LA VILLA-46–21
Địa chỉ: Khánh Hòa
Công ty tôi có khai thay thuế cho thuê tài sản cho chủ nhà, Công ty tôi dự tính sẽ khai theo năm thì đến tháng 1/2027 mới hết hạn tờ khai, Nhưng nay có sự thay đổi về quy định khai thay cá nhân cho thuê BĐS, công ty tôi phải khai theo kỳ thanh toán thì đã bị trễ thời gian kỳ tháng 1+2+3/2026. Vậy bây giờ tôi nộp tờ khai kỳ tháng 1+2+3/2026 thì có bị phạt không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 18, Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp khai thuế theo tháng thì hồ sơ khai thuế tháng 1, tháng 2, tháng 3 năm 2026 gửi cho cơ quan thuế quận lý trực tiếp chậm nhất là ngày 20 tháng 4 năm 2026. Như vậy, trường hợp Công ty khai thay, nộp thay thuế đối với hoạt động cho thuê bất động sản cho cá nhân, công ty thực hiện kê khai theo thời hạn nêu trên và không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Người nộp thuế: Lê Vân Anh-42–22
Địa chỉ: Hải Phòng
Đối với thuế cho thuê tài sản: Do tôi nộp tờ khai mãi không được chấp nhận, tôi đã tạm nộp thuế và tờ khai giờ mới được chấp nhận và tôi đã nộp thuế nhầm tiểu mục, nhầm cơ sở thuế quản lý. TRường hợp này có vi phạm gì không và bây giờ làm sao để điều chỉnh số tạm nộp kia cho đúng với tiểu mục và cơ sở thuế quản lý. Xin trân trọng Cảm ơn!
Trả lời:
Trường hợp bạn đã tạm nộp thuế đối với thu nhập từ hoạt động cho thuê tài sản nhưng không đúng tiểu mục và cơ quan thuế quản lý, bạn không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định. Để điều chỉnh số tạm nộp theo thông tin chính xác, bạn liên hệ cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn, hỗ trợ xử lý.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Nghị định số 68/20226/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp hộ kinh doanh khai thuế theo tháng thì hồ sơ khai thuế tháng 1, tháng 2, tháng 3 năm 2026 gửi cho cơ quan thuế quận lý trực tiếp chậm nhất là ngày 20 tháng 4 năm 2026. Trường hợp hộ kinh doanh khai thuế theo quý thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế quý I chậm nhất là ngày 30 tháng 4 năm 2026, tuy nhiên do thời hạn này trùng vào ngày nghỉ lễ theo quy định, do đó thời hạn chậm nhất để kê khai thuế quý I là ngày 04 tháng 5 năm 2026.
Người nộp thuế: Công ty Ấn Tượng-42–23
Địa chỉ: Khánh Hòa
Công ty chúng tôi có thuê xe ô tô của cá nhân, thỏa thuận là công ty tôi khai và nộp thuế thay cá nhân cho thuê. Nhưng theo nghị định 68/2026 tôi không thấy phần quy định và mẫu biểu về việc khai thay cá nhân cho thuê tài sản mà chỉ thấy khai thay cho thuê bất động sản. XIn cơ quan thuế hướng dẫn
Trả lời:
Theo quy định tại Nghị định số 68/20226/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 18/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính, trường hợp cá nhân có hoạt động cho tổ chức, công ty thuê tài sản (không phải bất động sản) thì tổ chức, công ty bên thuê không có trách nhiệm kê khai, nộp thay thuế TNCN, thuế GTGT đối với hoạt động cho thuê tài sản của cá nhân. Trường hợp cá nhân và tổ chức, công ty có thỏa thuận về việc ủy quyền kê khai, nộp thay thuế đối với hoạt động cho thuê tài sản của cá nhân theo quy định pháp luật dân sự thì tổ chức, công ty thực hiện kê khai thay, nộp thay theo ủy quyền.
Người nộp thuế: HOÀNG QUÍ-38–24
Địa chỉ: XÃ VĨNH LỘC TP HỐ CHÍ MINH
Kính gửi: Hội nghị Trước đây tôi đăng ký giảm trừ gia cảnh cho bản thân tôi 2 người. Bây giờ tôi muốn chuyển cho cho vợ tôi giảm trừ 1 người (Tức là tôi giảm 1, vợ tôi tăng 1). Vấn đề này cần thủ tục như thế nào. Cảm ơn hội nghị.
Trả lời:
Trường hợp Người nộp thuế có thay đổi về số lượng người phụ thuộc (tăng hoặc giảm) thì phải thực hiện đăng ký lại. Cụ thể, bạn cần làm thủ tục giảm số người phụ thuộc đăng ký giảm trừ gia cảnh (1 người) cho bản thân bạn và vợ bạn đăng ký tăng thêm 1 người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh.
Việc đăng ký lại người phụ thuộc được thực hiện theo trình tự đăng ký người phụ thuộc lần đầu quy định tại Khoản 2 Điều 22 Thông tư số 86/2024/TT-BTC, gồm:
- Lập hồ sơ đăng ký người phụ thuộc mới hoặc điều chỉnh người phụ thuộc hiện có.
- Nộp hồ sơ đăng ký người phụ thuộc tại cơ quan chi trả thu nhập (nếu nộp thuế qua cơ quan chi trả thu nhập) hoặc trực tiếp tại cơ quan thuế quản lý (nếu nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế).
Tờ khai đăng ký thuế dùng cho người phụ thuộc áp dụng theo mẫu số 20-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư số 86/2024/TT-BTC
Người nộp thuế: Trang-37–25
Địa chỉ: Hà Nội
Kính gửi Cục thuế, tôi có câu hỏi về Người phụ thuộc như sau. Người lao động (NLĐ) có nộp hồ sơ đăng kí Người phụ thuộc (NPT) cho Công ty. Công ty đã kê khai mẫu 20-ĐK-TH-TCT qua cổng dịch vụ công để thực hiện đăng kí NPT cho NLĐ. Tuy nhiên, trên dịch vụ công báo lỗi không khớp cơ sở dũ liệu quốc gia nên công ty không thể đăng kí NPT được. Do vậy, NLĐ đã chủ động ra cơ quan thuế cơ sở và tự đăng ký NPT cho mình. Vậy câu hỏi của tôi là: trường hợp NLĐ có nộp hồ sơ đăng kí NPT cho cơ quan chi trả thu nhập và tự đăng kí giảm trừ NPT với cơ quan thuế và được cơ quan thuế chấp nhận thì cơ quan chi trả thu nhập có thể tính giảm trử NPT cho NLĐ tại bảng lương hàng tháng và kê khai NPT đó khi QTT TNCN không? Hay cơ quan chi trả thu nhập muốn tính giảm trừ NPT cho NLĐ hàng tháng thì bắt buộc cơ quan chi trả thu nhập phải đăng kí NPT lên cơ quan thuế? Xin chân thành cảm ơn Cục Thuế!
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu người nộp thuế đã đăng ký thuế và được chấp nhận đăng ký thành công. Do đó, tổ chức trả thu nhập thực hiện kê khai, tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc đã đăng ký khi xác định số thuế TNCN đã khấu trừ hàng tháng/quý và khi quyết toán thuế TNCN mà không phân biệt trường hợp người phụ thuộc được đăng ký qua tổ chức trả thu nhập hay do cá nhân người lao động trực tiếp đăng ký với cơ quan thuế.
Người nộp thuế: Nguyễn Thị Thu Trang-31–26
Địa chỉ: Thôn Trung Xã Nội Bài Thành phố Hà Nội Việt Nam
1. Khi kê khai bảng kê 05-3/BK-TNCN trên tờ khai 05/QTT-TNCN, trong trường hợp người phụ thuộc còn nhỏ tuổi, chưa có định danh mức 2 thì điền mã số thuế người phụ thuộc có được không hay bắt buộc phải điền số định danh cá nhân? 2. Chỉ tiêu tổng thu nhập chịu thuế trả cho cá nhân trên tờ khai 05/QTT-TNCN có cần bằng tổng thu nhập chịu thuế trên tờ khai 05/KK-TNCN hàng tháng không? Trường hợp không bằng có cần nộp tờ khai bổ sung cho tháng bị sai không? 3. Trong năm công ty kê khai thiếu người phụ thuộc dẫn đến sai số thuế TNCN phải nộp. Vậy chúng tôi có cần kê khai lại tờ khai 05/KK-TNCN đối với tháng bị sai không? hay chỉ cần làm đúng trên tờ khai 05/QTT-TNCN, phần thuế chênh lệch sẽ bù trừ vào thuế TNCN tháng 3.2026
Trả lời:
1. Về trường hợp người phụ thuộc của người lao động chưa được chuẩn hóa dữ liệu và chưa cập nhật được mã định danh đối với mã số thuế, theo quy định tại Thông tư số 86/2024/TT-BTC ngày 23/12/2024 của Bộ Tài chính, người nộp thuế thực hiện cập nhật thông tin mã số thuế theo mẫu số 08-MST tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp qua ứng dụng eTax Mobile hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính về Thuế.
Đối với kỳ quyết toán thuế TNCN năm 2025, để tạo điều kiện cho tổ chức trả thu nhập thực hiện quyết toán, tổ chức trả thu nhập vẫn có thể sử dụng MST người phụ thuộc để kê khai giảm trừ tại Bảng kê 05-3/BK-QTT-TNCN.
Tuy nhiên, kể từ kỳ quyết toán thuế TNCN năm 2026, người nộp thuế lưu ý cần thực hiện đăng ký định danh cá nhân để cập nhật chính xác thông tin người phụ thuộc sớm nhất.
2. Về nguyên tắc, tổ chức trả thu nhập có trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thay số thuế đã khấu trừ của cá nhân, người lao động vào ngân sách nhà nước. Như vậy, tổ chức trả thu nhập cần kê khai số thuế TNCN đã khấu trừ tại chỉ tiêu [31] trên tờ khai 05/QTT-TNCN bảo đảm thống nhất với tổng số thuế đã khấu trừ tại chỉ tiêu [29] trên các tờ khai 05/KK-TNCN trong năm. Việc kê khai đồng bộ, chính xác giữa các kỳ là cơ sở để dữ liệu của từng cá nhân trên hệ thống cơ quan thuế phù hợp với thực tế phát sinh, đồng thời hạn chế sai lệch khi cá nhân tra cứu thông tin hoặc thực hiện quyết toán thuế.
3. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, trường hợp khi khai quyết toán thuế có phát sinh chênh lệch với số đã khấu trừ hàng tháng/quý trong năm thì người nộp thuế cần kiểm tra để xác định rõ nguyên nhân chênh lệch; trường hợp chênh lệch do kê khai sai, khai sót hoặc khấu trừ thiếu trong kỳ kê khai tháng, quý trong năm thì người nộp thuế thực hiện giải trình khai bổ sung hoặc khai bổ sung hồ sơ khai thuế tháng quý theo quy định tại khoản 4, Điều 7, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Bộ Tài chính.
Người nộp thuế: Hoài Thanh-23–27
Địa chỉ: Quảng Ninh
Với những người phụ thuộc đã đăng ký từ trước thì theo quy định mới có bắt buộc phải cập nhật theo CCCD không hay chỉ những người phụ thuộc mới đăng kí mới cần thực hiện?
Trả lời:
Tại khoản 3 Điều 39 Thông tư số 86/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định:
“3. Trường hợp hộ kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân đã được cấp mã số thuế trước ngày 01/7/2025 nhưng thông tin đăng ký thuế của đại diện hộ kinh doanh, đại diện hộ gia đình, cá nhân không khớp đúng với thông tin của cá nhân được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc không đầy đủ thì cơ quan thuế cập nhật trạng thái mã số thuế của hộ kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân sang trạng thái 10 “Mã số thuế chờ cập nhật thông tin số định danh cá nhân”. Người nộp thuế phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế với cơ quan thuế theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 25 Thông tư này để đảm bảo thông tin khớp đúng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trước khi sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Thông tư này.”
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, trường hợp người phụ thuộc đã được cấp mã số thuế trước ngày 01/7/2025 nhưng thông tin đăng ký thuế của người phụ thuộc không khớp đúng với thông tin được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc không đầy đủ thì anh/chị vui lòng kiểm tra lại thông tin đăng ký thuế và thực hiện thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế với cơ quan thuế theo quy định
Người nộp thuế: Nhựt Pham-22–28
Địa chỉ: 16 Nguyễn Trường Tộ Phường 13 Quận 4
1. Xin cho hỏi tiền hỗ trợ điện thoại, có quy định trong hợp đồng lao động và quy chế lương thưởng của công ty thì có thuộc diện được miễn thuế TNCN không? 2. Từ 1/1/2026, theo quy định mới thì tiền làm thêm giờ, làm ngày nghỉ lễ/têt, làm ca đêm, tền lương của ngày phép chưa nghỉ được miễn thuế TNCN toàn bộ hay chỉ được miễn đối với phần trả cao hơn so với lương, công làm việc ban ngày hoặc trong giờ hành chính;
Trả lời:
1. Về khoản tiền hỗ trợ điện thoại: Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm:
…
đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:
…
đ.4) Phần khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục,… cao hơn mức quy định hiện hành của Nhà nước. Mức khoán chi không tính vào thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp như sau:
…
đ.4.2) Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, các văn phòng đại diện: mức khoán chi áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp….”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp của bạn làm việc trong các tổ chức kinh doanh thì tiền hỗ trợ điện thoại phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công. Nếu tiền hỗ trợ điện thoại cao hơn mức quy định này thì tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công.
2. Về khoản tiền làm thêm giờ, làm ngày nghỉ lễ, tết, làm ca đêm, tền lương của ngày phép chưa nghỉ:
Tại Khoản 8 Điều 4 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 quy định về thu nhập miễn thuế: "8. Tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật là thu nhập miễn thuế".
Căn cứ quy định nêu trên, Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 đã quy định tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật là thu nhập miễn thuế.
Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (Nghị định, Thông tư) theo đúng thẩm quyền để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện.
Trân trọng./.
Người nộp thuế: NGUYEN THI KIEU DIEM-20–29
Địa chỉ: 39/5m ấp Đông 4 3 Xã Thới Tam Thôn Huyện Hóc Môn Hồ Chí Minh
1. Nhân viên công ty A được điều chuyển đến công ty B từ T1/2026 ( năm 2025 chỉ có thu nhập tại cty A, không phát sinh thu nhập tại Cty B), Cty A và Cty B cùng trong 1 hệ thống, Vậy quyết toán thuế 2025 được ủy quyền cho Cty A hay Cty B quyết toán thay. 2. Nhân viên công ty A được điều chuyển đến công ty B từ T7/2025, sau đó được điều chuyển từ Cty B sang Cty C từ T1/2026 ( năm 2025 có thu nhập tại cty A, và Cty B, không phát sinh thu nhập tại Cty C), Cty A, B, C cùng trong 1 hệ thống, Vậy quyết toán thuế 2025 được ủy quyền cho cty nào quyết toán thay hay tự quyết toán với cơ quan thuế?
Trả lời:
Về câu hỏi của Bạn, Cục Thuế trả lời như sau: Căn cứ điểm d khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ, trường hợp cá nhân điều chuyển từ tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng hệ thống và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức trả thu nhập quyết toán thuế thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả.
Trân trọng./.
Người nộp thuế: HOÀNG QUÍ-17–30
Địa chỉ: XÃ VĨNH LỘC TP HỒ CHÍ MINH
Kính gửi: Hội nghị Theo tôi tìm hiểu thì hiện nay MST cá nhân chính là số CCCD (Số định danh). Vậy người nộp thuế có cần đăng ký MST không. Chân thành cảm ơn./.
Trả lời:
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 22, Khoản 1 Điều 23, Khoản 4 Điều 25 Thông tư số 86/2024/TT-BTC:
Trường hợp cá nhân đã có mã số thuế và có số CCCD (số định danh cá nhân) đã khớp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì không cần đăng ký mã số thuế mới. Số định danh của cá nhân chính là mã số thuế của cá nhân.
Trường hợp cá nhân chưa được chuẩn hóa dữ liệu và chưa cập nhật được mã định danh đối với mã số thuế, theo quy định tại Thông tư số 86/2024/TT-BTC ngày 23/12/2024 của Bộ Tài chính, người nộp thuế thực hiện cập nhật thông tin mã số thuế theo mẫu số 08-MST tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp qua ứng dụng eTax Mobile hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính về Thuế.
Trường hợp cá nhân chưa thực hiện đăng ký thuế thì cá nhân phải thực hiện thủ tục đăng ký mã số thuế theo quy định tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Khi đó, mã số thuế cá nhân được cấp sẽ là số định danh cá nhân (số CCCD).
Người nộp thuế: Tien Nguyen-14–31
Địa chỉ: KP4 Tân Phong Biên Hòa Đồng Nai
Cục Thuế cho tôi hỏi hiện tại có 1 số cá nhân người lao động, người phụ thuộc của người lao động chưa khớp dữ liệu quốc gia nên chưa cập nhật được mst qua số CCCD. Nhiều lao động đang vướng hồ sơ sai thông tin trên cổng dữ liệu quốc gia hoặc chưa định danh mức 2. Vậy khi làm QTTNCN có sử dụng được MST cũ của người lao động và người phụ thuộc để làm QTTNCN cho những trường hợp này hay không?
Trả lời:
Về trường hợp cá nhân người lao động, người phụ thuộc chưa được chuẩn hóa dữ liệu và chưa cập nhật được mã định danh đối với mã số thuế, theo quy định tại Thông tư số 86/2024/TT-BTC ngày 23/12/2024 của Bộ Tài chính, người nộp thuế thực hiện cập nhật thông tin mã số thuế theo mẫu số 08-MST tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp qua ứng dụng eTax Mobile hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính về Thuế.
Đối với kỳ quyết toán thuế TNCN năm 2025, để tạo điều kiện cho tổ chức trả thu nhập thực hiện quyết toán, tổ chức trả thu nhập vẫn có thể sử dụng MST để thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho người lao động.
Tuy nhiên, kể từ kỳ quyết toán thuế TNCN năm 2026, người nộp thuế lưu ý cần thực hiện đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký thuế để cập nhật chính xác thông tin cá nhân, người phụ thuộc theo đúng dữ liệu quốc gia sớm nhất.
Trường hợp chưa được cấp số định danh cá nhân hoặc chưa khớp dữ liệu, cá nhân hoặc người phụ thuộc phải liên hệ với cơ quan Công an cấp xã để hoàn thiện thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, sau đó thực hiện đăng ký hoặc điều chỉnh thông tin thuế theo quy định.
Người nộp thuế: Phát-13–32
Địa chỉ: HCM
Doanh nghiệp áp dụng kỳ tính lương từ ngày 26 tháng trước đến ngày 25 tháng này và chi trả lương vào ngày cuối cùng của tháng. Trường hợp người lao động nghỉ việc vào ngày cuối tháng, thì tiền lương phát sinh từ ngày 26 đến ngày 31 sẽ được chi trả vào tháng kế tiếp. Vậy, khi doanh nghiệp chi trả khoản tiền lương từ ngày 26 đến 31 cho người lao động vào tháng sau, khoản thu nhập này: Có được áp dụng giảm trừ gia cảnh không? Có được tính thuế thu nhập cá nhân theo biểu thuế lũy tiến từng phần hay không?
Trả lời:
Điểm c, Khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“c) Nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh
….
c.1.3) Trường hợp trong năm tính thuế cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặc giảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế theo quy định.”.
Căn cứ điểm b, Khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“b) Thu nhập từ tiền lương, tiền công
b.1) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều nơi.
b.2) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên nhưng nghỉ làm trước khi kết thúc hợp đồng lao động thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.”.
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp của Bạn được giảm trừ gia cảnh đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhântheo quy định và Bạn cần căn cứ hợp đồng lao động đã ký của Bạn, đối chiếu các quy định nêu trên để xác định tổ chức đã khấu trừ thuế thu nhập cá nhân phù hợp hay chưa.
Người nộp thuế: Lê Hà-12–33
Địa chỉ: Lào Cai
Kính gửi cục thuế, Tháng 7/2025 do sáp nhập tỉnh, đơn vị tôi bị sáp nhập với đơn vị tỉnh mới và đã hoàn thành thủ tục chấm dứt hoạt động mã số thuế. Đơn vị cũ đã nộp quyết toán thuế TNCN và chuyển toàn bộ người lao động sang đơn vị mới. Vậy tại đơn vị mới sẽ thực hiện quyết toán thuế TNCN cho người lao động như thế nào trên 05-QT tại cột Tổng thu nhập chịu thuế và cột TNCT tại tổ chức trước điều chuyển. Khi đơn vị mới nộp quyết toán có bị lỗi NNT kê khai TNCN đã khấu trừ trong năm khác số CQT tổng hợp hay không? Mong cục thuế hướng dẫn. Xin chân thành cảm ơn Cục thuế!
Trả lời:
Trường hợp đơn vị bạn thực hiện quyết toán thuế TNCN thay cho người lao động điều chuyển trong cùng hệ thống, bạn thực hiện kê khai như sau:
– Đánh dấu chỉ tiêu [04] Tổ chức có quyết toán thuế theo uỷ quyền của cá nhân được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc điều chuyển trong cùng hệ thống tại Tờ khai 05/QTT-TNCN.
– Trên Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-QTT-TNCN, kê khai các chỉ tiêu:
+ Chỉ tiêu [12] Tổng thu nhập chịu thuế: Bao gồm thu nhập tại cả tổ chức cũ và tại đơn vị bạn;
+ Chỉ tiêu [13] Trong đó: TNCT tại tổ chức trước khi điều chuyển: Kê khai thu nhập tại tổ chức cũ;
+ Chỉ tiêu [22] Tổng số thuế TNCN đã khấu trừ: Bao gồm số thuế đã khấu trừ tại cả tổ chức cũ và đơn vị bạn;
+ Chỉ tiêu [23]: Trong đó: Số thuế đã khấu trừ tại tổ chức trước khi điều chuyển: Kê khai số thuế đã kháu trừ tại tổ chức cũ.
Người nộp thuế: Huynh Ngoc Bao Vy-10–34
Địa chỉ: Đồng Nai
Từ ngày 15/06/2025 mức trần tiền ăn giữa ca cho người lao động 730k bị hủy bỏ thì có được tính cả năm khi QTT năm 2025 không?
Trả lời:
Về nội dung này, Cục Thuế đã có công văn số 5106/CT-CS ngày 12/11/2025 về chính sách thuế thu nhập cá nhân, cụ thể:
“Tại Điều 103 Bộ Luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 quy định chính sách thuế thu nhập cá nhân, cụ thể:
“Điều 103. Chế độ nâng lương, nâng bậc, phụ cấp, trợ cấp
Chế độ nâng lương, nâng bậc, phụ cấp, trợ cấp và các chế độ khuyến khích đối với người lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy định của người sử dụng lao động”.
Tại Khoản 1 Điều 33, khoản 9 Điều 34 Nghị định số 44/2025/NĐ-CP ngày 28/2/2025 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước quy định:
“Điều 33. Hiệu lực thi hành
“1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 4 năm 2025. Các chế độ quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2025”
“Điều 34. Tổ chức thực hiện
9. Chế độ ăn giữa ca hoặc ăn định lượng đối với người lao động, Ban điều hành, Thành viên Hội đồng, Kiểm soát viên được thực hiện theo thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy, quy chế của doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động”.
Tại Điều 10 Nghị định số 248/2025/NĐ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ quy định chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước và kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước quy định:
“Điều 10. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 9 năm 2025. Các chế độ quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 8 năm 2025.
2. Bãi bỏ Nghị định số 44/2025/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước”.
Tại tiết g.5 điểm g Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“g. Không tính vào thu nhập chịu thuế đối với các khoản sau:
g.5) Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn.
Trường hợp người sử dụng lao động không tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa mà chi tiền cho người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân nếu mức chi phù hợp với hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Trường hợp mức chi cao hơn mức hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì phần chi vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Mức chi cụ thể áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước và các tổ chức, đơn vị thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, Đảng, Đoàn thể, các Hội không quá mức hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Đối với các doanh nghiệp ngoài Nhà nước và các tổ chức khác, mức chi do thủ trưởng đơn vị thống nhất với chủ tịch công đoàn quyết định nhưng tối đa không vượt quá mức áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước”.
Ngày 29/9/2025, Bộ Nội vụ có công văn số 1387/CTL&BHXH-TLSXKD gửi Cục Thuế (công văn photo kèm theo). Trong đó có nêu: Theo quy định tại Điều 103 Bộ Luật lao động thì các chế độ khuyến khích đối với người lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy định của người sử dụng lao động. Chế độ ăn giữa ca đối với người lao động, Ban điều hành, Thành viên hội đồng, Kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước từ ngày 01/01/2025 đến 31/7/2025 được thực hiện theo quy định tại khoản 9 Điều 34 Nghị định số 44/2025/NĐ-CP ngày 28/2/2025 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước; từ ngày 01/8/2025 được thực hiện theo quy định của Bộ Luật Lao động”.
Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN (Nghị định, Thông tư) theo đúng thẩm quyền để hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện.
Trân trọng./.
Người nộp thuế: Nguyễn Khánh Hoài-9-T-35
Địa chỉ: TPHCM
Cho em hỏi trong năm 2024 cá nhân có 2 nguồn thu nhập, tổng thu nhập không phải đóng thuế TNCN. Nhưng do cá nhân không biết có thêm 1 nguồn thu nhập khác (do mua sắm thực phẩm chức năng được chiết khấu) nên vẫn ủy quyền cho công ty quyết toán. Vậy cá nhân có phải làm lại bảng quyết toán thuế TNCN của năm 2024 không ạ?
Trả lời:
Theo nội dung câu hỏi của bạn thì bạn có 2 nguồn thu nhập trong năm 2024, tổng thu nhập không phải đóng thuế TNCN, nhưng do bạn không biết có thêm nguồn thu nhập khác (do mua sắm thực phẩm chức năng được chiết khấu) nên đã ủy quyền cho công ty quyết toán thuế TNCN.
Theo quy định hiện hành, trường hợp cá nhân có thu nhập từ 2 nguồn nhưng vẫn đủ điều kiện ủy quyền cho công ty thực hiện quyết toán thuế thay, nếu trường hợp cá nhân phát sinh thêm khoản thu nhập khác thì cá nhân có trách nhiệm thông báo và bổ sung nguồn thu nhập này cho công ty được ủy quyền để công ty thực hiện quyết toán lại cho đầy đủ, chính xác. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP; Thông tư số 80/2021/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
Người nộp thuế: Trần Thị Thu Trang-8-T-36
Địa chỉ: An Biên Hải Phòng
Câu hỏi của em là: Lương tháng 12/2025 sang tháng 1/2026 Công ty mới thanh toán. Vậy khi lên Tờ khai quyết toán thuế TNCN thì chi phí Bảo hiểm xã hội được trừ sẽ tính là 11 tháng hay 12 tháng ạ.( Lương năm 2024 không có vắt năm, và tiền bảo hiểm đã hạch toán chi phí và nộp vào tháng 12/2025 ạ).
Trả lời:
Nội dung câu hỏi của Bạn chưa đầy đủ thông tin. Tuy nhiên, về nguyên tắc, Cục Thuế trả lời Bạn như sau:
– Về thời điểm tính thuế: căn cứ điểm b khoản 2 Điều 8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định về thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công thì:
“Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế.”
Theo đó, thu nhập từ tiền lương, tiền công được xác định theo thời điểm chi trả thu nhập. Do vậy trường hợp như bạn mô tả tiền lương tháng 12/2025 được doanh nghiệp chi trả vào tháng 01/2026 thì thời điểm xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của bạn là tháng 01 năm 2026.
– Về các khoản giảm trừ khi tính thuế TNCN (như BHXH,…): Các khoản giảm trừ thực hiện theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân và phù hợp với quy định của pháp luật kế toán.
Trân trọng./.
Người nộp thuế: Thuỷ-5-H-37
Địa chỉ: Thanh Xuân Hà Nội
Kính chào Cơ quan thuế, tôi có câu hỏi về đăng ký người phụ thuộc cần cơ quan thuế giải đáp: 1. Tôi uỷ quyền cho công ty đang làm việc thực hiện quyết toán thuế TNCN cuối năm. Tuy nhiên công ty có yêu cầu tôi tự đăng ký mã số thuế người phụ thuộc với cơ quan thuế để được cấp mã số thuế rồi báo lại công ty. Như vậy có đúng theo quy định không, nếu tôi tự đăng ký mst npt thì cuối năm tôi có phải tự quyết toán thuế TNCN không? 2. Theo tôi được biết từ ngày 14/2/2026 đã bãi bỏ thủ tục đăng ký người phụ thuộc, gộp với đăng ký thuế lần đầu. Tôi muốn hỏi bây giờ tôi muốn đăng ký mst npt lần đầu trực tiếp với CQT thì ngoài mẫu 20-dk-tct thì cần nộp thêm những hồ sơ gì? Trên dichvucong không đính kèm được hồ sơ chứng minh npt thì tôi có phải gửi hồ sơ giấy đến cơ quan thuế để được cấp mst npt không? Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trả lời:
1. Về nguyên tắc, theo quy định tại điểm h.2, khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công đăng ký người phụ thuộc theo mẫu quy định và nộp hai (02) bản cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập để tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện đăng ký người phụ thuộc cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý.
Trường hợp cá nhân trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế thì cá nhân nộp một (01) bản đăng ký người phụ thuộc theo mẫu quy định về cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý tổ chức trả thu nhập để đăng ký giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc.
Về việc ủy quyền quyết toán thuế TNCN được thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, trường hợp bạn trực tiếp đăng ký người phụ thuộc với cơ quan thuế thì bạn vẫn có thể ủy quyền quyết toán thuế TNCN cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thuế TNCN thay nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định nêu trên.
2. Để chuẩn bị hồ sơ đăng ký người phụ thuộc, bên cạnh việc kê khai mẫu số 20/ĐK-TCT, bạn tham khảo quy định tại Điều 1, Thông tư 79/2022/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Người nộp thuế: Đặng Lan Anh-4-S-38
Địa chỉ: Ninh Bình
Tôi tham gia các diễn đàn đều thấy đăng thông tin đã xóa bỏ thủ tục đăng ký người phụ thuộc. Vậy năm nay công ty tôi có cần đăng ký người phụ thuộc thay cho người lao động nữa không?
Trả lời:
Trước đây, để được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, người nộp thuế phải thực hiện hai thủ tục riêng biệt gồm:
(1) Đăng ký thuế đối với người phụ thuộc theo mẫu 20-TH-ĐK-TCT;
(2) Đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc theo mẫu 07/TH-ĐKNPT-TNCN.
Hai mẫu kê khai đăng ký liên quan đến người phụ thuộc này đều yêu cầu người nộp thuế kê khai các thông tin giống nhau về người phụ thuộc như số giấy tờ tùy thân, số căn cước công dân, quan hệ với người nộp thuế,… Điều này dẫn đến việc kê khai trùng lặp thông tin, phát sinh thêm thủ tục và tăng chi phí tuân thủ cho người nộp thuế.
Vì vậy, trên cơ sở rà soát và cải cách thủ tục hành chính, Cục Thuế đã đề xuất gộp hai thủ tục này thành một, theo đó bãi bỏ thủ tục đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc như một thủ tục hành chính độc lập. Theo quy định tại Nghị định số 373/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Quyết định số 216/QĐ-BTC ngày 03/2/2026 của Bộ Tài chính, để được tính giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc, người nộp thuế hiện nay chỉ cần thực hiện đăng ký thuế cho người phụ thuộc, và thông tin này đồng thời được sử dụng để xác định giảm trừ gia cảnh khi quyết toán thuế.
Như vậy, công ty bạn vẫn có trách nhiệm đăng ký thuế đối với người phụ thuộc thay cho người lao động theo mẫu mẫu 20-TH-ĐK-TCT khi có đề nghị và được cung cấp đầy đủ hồ sơ theo quy định.
—
